Thứ Tư, 8 tháng 4, 2015

6 bí quyết trở thành nhà lãnh đạo giỏi

Lãnh đạo giỏi không phải là ở trên cao “chỉ tay năm ngón”. Lãnh đạo giỏi hiểu rõ mình nên như thế nào, cần làm gì, hiệu quả tới đâu và biết cách điều binh khiển tướng.



CareerLink xin giới thiệu 6 bí quyết giúp bạn vươn tới vị trí một lãnh đạo giỏi

Bí quyết 1 : Dám nghĩ, dám làm và có kỹ năng ra quyết định
Tố chất thường thấy ở một lãnh đạo giỏi là dám nghĩ, dám làm và có kỹ năng ra quyết định. 12 năm trước, ông David Thái, chủ toạ Hội đồng Quản trị của đơn vị Cổ phần Việt Thái có ý tuởng kinh doanh café mang hương vị quốc tế. Và mặc cho bạn bè nghi ngờ, Highlands vẫn ra đời và chóng vánh thành công.

Thực tại, để ý tưởng triển khai vào thực tế mang lại kết quả tốt, để có một quyết định đúng đắn, đòi hỏi người lãnh đạo phải có một giác quan tốt, kiểm tra và dự báo được tình hình, cân nhắc được lợi hại của các quyết định và hiểu sâu sắc đẹp việc mình làm. Ông Phạm Nhật Vượng, chủ tịch Vingroup từng san sớt, trước khi lên ý tưởng cho một dự án mới, ông thường đi đây đó để tham khảo. Cách làm này giúp cho các ý tưởng, kế hoạch của người lãnh đạo trở thành thực tế và sát khung.

Bí quyết 2 : Biết tìm người và giữ người
Theo bác sĩ Nguyễn Hữu Tùng, chủ tịch kiêm tổng giám đốc tập đoàn y khoa Hoàn Mỹ, một trong những việc khó nhất của người lãnh đạo là kiếm tìm và tuyển dụng nhân sự. Bởi tìm được người quản lý, viên chức vừa giỏi kiến thức-chuyên môn, dám nhận công việc, vừa có bản lĩnh chịu bổn phận,vừa có đạo đức, hiểu được những chiến lược, tầm nhìn, văn hóa doanh nghiệp… là rất khó.

Các lãnh đạo cũng phải xây dựng được cho mình một hàng ngũ nhân sự tận tụy với công tác, có ý thức hiệp tác và vì mục tiêu chung. Để đạt được điều đó, bà Phạm Thị Việt Nga- chủ tịch Dược Hậu Giang cho biết, từ bấy lâu, bà đã rất ưu tiên cho công việc huấn luyện, đào tạo viên chức để tạo ra một hàng ngũ nhân sự biết việc và làm được việc.

Việc quan yếu khác của một lãnh đạo giỏi là biết tin giao việc. Nếu nhân viên làm sai, người lãnh đạo giỏi sẽ tạo điều kiện để viên chức khắc phục và sửa sai. Khi đánh giá về nhân viên, một lãnh đạo giỏi là người biết kiểm tra dựa trên năng lực và kết quả công tác. Họ sẽ dùng con số, sự kiện, thành tích… làm thước đo. Điều này thường giúp nhân viên cảm thấy công bằng và mọi đóng góp của họ đều được ghi nhận, từ đó càng nỗ lực phấn đấu.

Tuy nhiên, theo Harvey Mackay, bậc thầy giảng dạy về nghệ thuật lãnh đạo “Lãnh đạo giỏi phải có khả năng nhận biết, thu hút và giữ chân nhân tài”. Muốn vậy, ngoài thuật tin dùng người, không gì hơn bằng tạo môi trường làm việc quyến rũ và khen thưởng xứng đáng.

Bí quyết 3 : Có tầm nhìn xa
Tất cả các lãnh đạo đều tán thành, điểm khác nhau giữa lãnh đạo và quản lý là nhà lãnh đạo có ý tưởng, có tầm nhìn xa. Một tầm nhìn xa sẽ giúp lãnh đạo vạch trước những chiến lược hoạt động dài hạn, dự đoán trước những biến động có thể xảy ra trong tương lai để chuẩn bị,tìm cách thích nghi và đón đầu cơ hội.

Chả hạn, 9 năm trước, khi còn là doanh nghiệp sản xuất nhỏ và may gia công, người đứng đầu ở May Sài Gòn đã nhận thấy, để doanh nghiệp phát triển và lớn mạnh, đơn vị cần sản xuất theo mô hình FOB (chủ động vật liệu, phát triển sản phẩm dựa trên mẫu của khách hàng và sinh sản). Kết quả, tăng trưởng bình quân thời đoạn 2004 - 2011 là 89%/năm về doanh thu và 60,4%/năm về lợi nhuận.

Bí quyết 4 : Luôn học hỏi
Trong quyển tự truyện của mình, Sam Walton - nhà sáng lập Tập đoàn Wal-Mart - đã nhiều lần nhắc về niềm say mê lớn nhất của ông: “Tôi rất thích học. Tôi học mọi lúc mọi nơi, với mọi đối tượng…” Và ông công nhận “ Mọi thứ tôi có được có nhẽ do tôi đã may mắn là một người mê say học và biết học những điều khôn ngoan nhất của con người”.

Trên thực tại, nhiều doanh nhân Việt cũng cảm nhận như vậy. Dù đã ngoài 60 tuổi, bà Phạm Thị Việt Nga, chủ tịch Dược Hậu Giang vẫn rất say mê học. Theo bà “Mỗi một ngày qua là một thay đổi, dù có học bao lăm cũng không đủ. Học - học nữa - học mãi và học ở mọi nơi – mọi người là điều tâm niệm thế cuộc tôi”

Lãnh đạo học để tạo giá trị cho bản thân nhưng cũng là để tăng giá trị tài sản vô hình cho tổ chức. Qua việc không ngừng học hỏi, lãnh đạo sẽ tích lũy được nhiều kiến thức để kinh doanh bài bản, chuyên nghiệp và theo kịp những thay đổi của thời đại, của áp lực cạnh tranh không có chỗ cho cách làm cũ, tư duy cũ. Học gần như đã là bản năng với mỗi người lãnh đạo.

Bí quyết 5 : Biết lắng nghe viên chức
Để sâu sát tình hình đơn vị, hiểu rõ suy nghĩ của nhân viên, không gì bằng lãnh đạo phải biết lắng nghe nhân viên. Đó là lý do mà nhiều công ty duy trì bữa cơm trưa chung cho toàn doanh nghiệp với mục đích, lãnh đạo có dịp xúc tiếp viên chức, lắng tai những câu chuyện bình thường và những ý kiến của họ.

Nhưng theo các chuyên gia, muốn nghe những san sẻ thật của nhân viên, quan trọng là thái độ lắng tai từ phía lãnh đạo. Đó là một thái độ ghi nhận, hội tụ, tôn trọng và thực sự mong muốn lắng nghe ý kiến nhân viên. Đặc biệt, lãnh đạo phải biết vượt lên tự ái bản thân, biết chấp thuận đổi thay trước những đề xuất của viên chức.

Bí quyết 6 : thật tình và hòa đồng
dù rằng chừng độ cởi mở của người lãnh đạo còn tùy ở tính cách, phong cách của người đó nhưng một nhà lãnh đạo giỏi thường biết đến như một người gần gũi, hòa đồng. Khi lãnh đạo cùng ăn cùng mặc, cùng sinh hoạt, cùng chơi với nhân viên, nhân viên sẽ cảm thấy không còn khoảng cách với lãnh đạo và dễ san sẻ với lãnh đạo hơn. Đặc biệt, nếu những việc nhân viên làm mà lãnh đạo cũng làm được, sự tâm phục, mến mộ của viên chức dành lãnh đạo càng cao.

Nguồn: Careerlink.Vn

Sinh viên đừng than “đào đâu” ra kinh nghiệm

Nhiều bạn đề cập đến một "nghịch lý" đó là tổ chức nào khi tuyển dụng cũng đòi hỏi ứng viên phải có kinh nghiệm, mà sinh viên mới ra trường đào đâu ra kinh nghiệm. Hãy nghĩ lại.



Tôi xin san sẻ góc nhìn của mình vì từng là sinh viên mới ra trường, từng làm công việc tuyển dụng, về vấn đề này như sau.

Anh chị em sinh viên ức chế vì doanh nghiệp nào tuyển cũng đòi kinh nghiệm cũng có lý, nhưng hãy thử đặt mình ở vị trí nhà phỏng vấn. Thí dụ như chuyên ngành của tôi là xuất bản/dịch thuật/biên tập. Doanh nghiệp tôi thường phải tuyển nhân sự toàn thời gian và bán thời gian. Tôi chịu nghĩa vụ biên tập lại trên bản dịch của Cả nhà, tôi chịu bổn phận với sếp về bản dịch của Các bạn. Như thế, để việc chạy tốt, tôi buộc phải làm việc với người càng cứng tay càng tốt.

Trong quá trình hơn 10 năm làm việc của mình, cũng có những lúc tôi quyết định làm việc với một số bạn sinh viên - đó là những bạn chưa có kinh nghiệm nhưng theo nhận định chủ quan của tôi là "có tố chất", thế nên tôi dành thời kì riêng của tôi (công ty không trả lương cho việc này) để hướng dẫn Anh chị. Sau khi Các bạn "có kinh nghiệm" thì hoặc là tôi tuyển Các bạn, hoặc là Anh chị em nộp giấy tờ vào một doanh nghiệp khác với phong thái là người đã có kinh nghiệm cộng tác với tổ chức tôi. Và thật sự thì việc hướng dẫn cho sinh viên mới ra trường rất cực - hẳn nhiên cực hơn nhiều so với làm việc với người có kinh nghiệm. Không cực làm sao được khi sinh viên nhiều bạn đến ngày ra trường vẫn không biết cách viết một cái mail cho chuẩn mực, không biết cách format Word, không biết tra google, không biết tự đi tìm câu giải đáp cho vấn đề của mình..., Đó là tôi chưa nói đến chuyên môn.

Anh chị hỏi mới ra trường, không ai nhận, mà tổ chức nào cũng đòi phải "có kinh nghiệm", thì kinh nghiệm đâu ra? Vậy Cả nhà có khi nào tự hỏi, nếu doanh nghiệp nào cũng đòi "có kinh nghiệm" thì những người họ tuyển được từ đâu ra? Chẳng phải ai cũng đi từ sinh viên mới ra trường chưa có kinh nghiệm đó sao? Vậy thì vì sao người ta cũng là sinh viên mới ra trường nhưng "có kinh nghiệm" còn mình thì không? Phải biết tự đặt câu hỏi và tìm câu giải đáp, đừng chỉ chằm chặp vào "nghịch lý" rằng các doanh nghiệp đòi hỏi ứng viên phải "có kinh nghiệm".

Vậy thì kinh nghiệm ở đâu ra? Kinh nghiệm trong quá trình vừa học vừa làm của Anh chị. Kinh nghiệm từ các công tác part-time chạy đôn chạy đáo của Cả nhà - dẫu cho việc part-time đó không thúc đẩy đến chuyên ngành. Kinh nghiệm từ những việc làm không lương của Các bạn từ thời sinh viên. Tham dự các hoạt động xã hội, từ thiện...Cũng là một dạng tàng trữ kinh nghiệm. Bởi vì mong Anh chị em hiểu cho, "kinh nghiệm" ở đây còn là kinh nghiệm làm việc (tức là biết cách làm việc, làm gì cũng được) và kinh nghiệm sống, chứ không chỉ là "kinh nghiệm có được khi làm việc trong chuyên ngành đó".

Khi Anh chị em còn đặt vấn đề, lên án "nghịch lý" đó thì tức là Anh chị em vẫn còn ảo tưởng về cuộc sống này, còn nặng tư tưởng ngồi mát ăn bát vàng và thích được người ta dọn sẵn cho mình ăn. Thức giấc dậy đi, cuộc đời này không đơn giản như thế. Các công ty kinh doanh không phải là công ty từ thiện, họ trả lương cho bạn xứng đáng với những gì họ nhận lại được từ bạn. Vậy thì nếu bạn vẫn thở than về chuyện mới ra trường không có kinh nghiệm, thế thì hãy nộp đơn xin học việc từ 3 đến 6 tháng để lấy kinh nghiệm - bạn dám không? Nếu dám, vững chắc có doanh nghiệp nhận bạn. Nếu không, thế thì vì sao bạn lại muốn các tổ chức nhận bạn vào và bỏ ra chừng đó thời gian cộng trả lương thuởng để dạy việc cho bạn? Không công bằng đúng không?

Chốt lại, nếu bạn tiếp tục ngồi đó than thì còn không có kinh nghiệm dài dài. Hãy đi kiếm công việc gì làm, hãy nhào vào làm, không ai trả lương cũng làm, cứ cho trước đi rồi từ từ nhận lại sau, tự khắc chưa ra trường cũng sẽ tích lũy được một mớ kinh nghiệm rồi đấy Cả nhà.

Vi Thảo Nguyên
buzznews.Vn

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

Sưu tầm: đơn ứng tuyển tiếng việt

Các nhân tố môi trường chủ yếu thúc đẩy công tác Quản trị đơn vị

“Điểm yếu của lực lượng quản lý Việt Nam đó là tư duy chiến lược, hệ thống sáng tạo. Điểm yếu thứ hai giữa nhân lực Việt Nam và nước ngoài đó là tính hội tụ và chuyên môn hóa thấp. Nhân công Việt Nam có thể xử lý nhiều tác nghiệp khác nhau nhưng khi cần chuyên môn sâu thì không đáp ứng được.” Thích ứng là năng lực quan yếu nhất của các cấp lãnh đạo và quản lý.

1. Khuynh hướng sáp nhập tổ chức

 Sáp nhập công ty sẽ trở nên phổ thông hơn trong thời gian tới. Các cấp quản lý cần tập kết nâng cao tư duy chiến lược, hệ thống và nâng cao năng lực thay vì tập trung những yếu tố ngắn hạn. Hay nói cách khác, ,muốn tồn tại trong khuynh hướng sáp nhập công ty, các quản lý cấp cao cần phải tạo ra các hoạt động và chương trình có giá trị gia tăng cao và cộng hưởng với chiến lược kinh doanh của tổ chức.

2. Thiên hướng tụ tập vào các ngành kinh doanh chính

 Các đơn vị trong thời kì tới sẽ cắt giảm, thu gọn và tụ tập vào các ngành kinh doanh chính. Cấp quản lý cấp cao cần tập kết vào các năng lực mấu chốt có liên quan chặt chẽ tới hoạt động kinh doanh chính chủa đơn vị và tập đoàn.

3. Phí tổn tài nguyên tăng cao

 Các đơn vị Việt Nam trong thời kì gần đây phải đối diện với tổn phí đầu vào ngày một gia tăng. Phí tài nguyên gia tăng sẽ hạn chế tài nguyên cấp quản lý sử dụng như số lượng viên chức, ngân quỹ sử dụng trong năm. Các cấp quản lý trong thời kì tới cần chú ý các giải pháp quản lý như tối ưu hóa qui trình, cơ cấu đơn vị nhằm tăng tính hiệu năng của vận hành đồng thời chú ý các biện pháp nâng cao năng suất của cán bộ công nhân viên chuẩn y huấn luyện , gắn kết viên chức, ý thức làm việc nhóm…

 4. Thiên hướng chuyển đổi mô hình kinh doanh

 Các doanh nghiệp Việt Nam thường xây dựng mô hình kinh doanh bằng cách cạnh tranh về giá rẻ. Trong những năm tới, mô hình kinh doanh giá rẻ sẽ không còn hiệu quả do nhân tố phí tổn tài nguyên tăng quá cao. Mô hình kinh doanh tốt đảm bảo lợi nhuận tổ chức bền vững và tăng theo thời kì.Để tăng lợi nhuận chỉ có hai cách thức:
- Nhằm giảm tổn phí như các tổ chức Việt Nam thực hành
- Nhằm tăng doanh thu duyệt y các sản phẩm sáng tạo và khác biệt đồng thời kèm theo cải tiến năng suất làm việc.
Cấp quản lý trong những năm tới cần nghĩ suy sáng tạo và dị biệt, ứng dụng chiến lược nhằm chuyển đổi mô hình kinh doanh thích hợp với áp lực môi trường bên ngoài.

5. Hiệp tác với các đối tác và doanh nghiệp cạnh tranh

 Đứng trước áp lực chuyển đổi mô hình kinh doanh và tổn phí tài nguyên tăng, các cấp quản lý cần hướng tới việc kết hợp và cộng hưởng với các đối tác trong công việc vận hành tại doanh nghiệp. Các cấp quản lý cần phải kiếm tìm các thời cơ và phạm vi hiệp tác để giải quyết bài toán sức ép ngắn hạn nhưng không liên quan tới các chiến lược dài hạn của tổ chức.

6. Cạnh tranh giữa cần lao Việt Nam và lao động Việt Nam và nước ngoài

 Các cấp quản lý Việt Nam cần nhận thức rõ trong việc nâng cấp kỹ năng quản lý và chuyên môn để không bị cạnh tranh ngay trên sân nhà. Điểm yếu của lực lượng quản lý Việt Nam đó là tư duy chiến lược, hệ thống, sáng tạo. Điểm yếu thứ hai giữa nhân lực Việt Nam và nước ngoài đó là tính tập kết và chuyên môn hóa thấp. Nhân lực Việt Nam có thể xử lý nhiều tác nghiệp khác nhau nhưng khi cần chuyên môn sâu thì không đáp ứng được.

7. Logo- Stay in local and compete in Global ( Trú ẩn tại địa phương nhưng bị ép cạnh tranh trên thị trường quốc tế)

 Khái niệm Logo được tác giả bài viết đưa ra nhằm phản chiếu thực tế bị cưỡng ép cạnh tranh toàn cầu hóa ngay trên sân nhà. Logo là kết quả thế tất của việc toàn cầu hóa và thế giới phẳng. Cấp Quản lý Việt Nam cần thấu hiểu rõ các tiêu chuẩn hoàn thành công tác cần được nâng tới tầm khu vực và quốc tế một cách nhanh nhất có thể được.

 8. Thị trường không sử dụng tiếng Anh

 Anh văn đã trở nên tiếng nói toàn cầu kinh doanh. Điều đó không có nghĩa là tiếng Anh là thống trị. Có ba thị trường phi Anh văn rất quan yếu các tổ chức Việt Nam cần hướng tới đó là thị trường tiếng Trung, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Nga. Sử dụng thành thục một trong ba thứ tiếng nói trên sẽ tạo những lợi thế cạnh tranh đáng kể cho cấp quản lý Việt Nam.

9. Kiến tạo nhân lực thay vì mua nhân công

 Nguồn nhân công trở nên linh hoạt và khó tìm kiếm hào kiệt hơn. Các cấp quản lý cần hướng tới việc tự phát triển nguồn nhân lực thay vì tuyển dụng và mua về. Các hoạt động nhân sự cần hướng tới việc tuyển dụng lao động trẻ, tập huấn các nhân viên có tiềm năng cao chuẩn y phát triển anh tài, xây dựng hàng ngũ kề cận song song xây dựng chính sách giữ người trên thị trường cần lao. Ưng chuẩn nguồn nhân công được đầu tư và huấn luyện, doanh nghiệp sẽ nhận được giá trị gia tăng nhiều hơn thông qua cải thiện chất lượng và năng suất.

10. Cá nhân cạnh tranh theo mạng lưới

 Tri thức và thông tin được phát triển với cấp số nhân. Ngày bữa nay, xử lý toàn bộ thông tin và tri thức liên quan tới một ngành hẹp vững chắc sẽ vượt quá năng lực xử lý của bộ não cá nhân,
Câu hỏi” Có làm được hay không” đã thuộc về quá khứ. Câu hỏi ngafyu bữa nay “ Anh làm điều này trong bao nhiêu lâu” là câu hỏi CEO truyền vận tải tới cấp quản lý. Tốc độ là nhân tố quyết định thành công trong thế giới phẳng khi mọi người xoành xoạch biết cách tìm ra câu giải đáp cho các vấn đề

 10 yếu tố ảnh hưởng trên là những lực đổi thay toàn bộ tư duy, nghĩ suy và hành động của cấp quản lý Việt Nam. Các mục đích như sáng tạo, chiến lược, hệ thống bền vững, thay đổi, cộng hưởng, màng lưới, hướng tới năng suất, thay đổi mô hình kinh doanh là những mục tiêu quan yếu cấp quản lý Việt Nam cần hướng tới.

Kỷ Yếu Ngày nhân sự Việt Nam - Vietnam HRDay
ThS. Vũ Tuấn Anh – giám đốc điều hành Viện Quản lý Việt Nam

Sưu tầm: sách nhân sự

10 bí quyết quản lý   nhân sự

Năm mới đến là lúc chúng ta nhìn lại những điều đã làm trong năm qua và tìm cách đồ mưu hoạch để năm nay tốt đẹp hơn. Một số người nói rằng: những quyết tâm chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và ngay tức khắc bị lu mờ khi gặp sự cố. Ngoại giả, hồ hết chuyên gia nhận định: kiên tâm dẫn dắt đơn vị đến thành công.

Mời Anh chị theo dõi bài "10 bí quyết   quản lý nhân sự   đầu năm". Sau đây là vài điều doanh nghiệp cần kiên tâm thực hiện trong năm mới:

1. Đưa ra một dự án rõ ràng với những mục đích cụ thể, vừa sức. Đồng thời, san sớt nó với tất cả viên chức. Họ cần biết bạn đang dẫn dắt tổ chức theo hướng nào? Họ có thể làm gì để sát cánh bên bạn, cùng thúc đẩy công ty phát triển? Nắm bắt được những điều đó, viên chức sẽ dần dần xây dựng nghĩa vụ và làm việc hiệu quả hơn.

2. Yêu cầu viên chức lập mục tiêu cá nhân. Hãy khuyến khích viên chức lập những mục tiêu cao để kích thích họ vươn đến đỉnh cao mới và đạt được nhiều thành tựu hơn. Nhìn chung, nếu tiêu chuẩn càng cao và nỗ lực càng lớn thì thành quả càng tốt. Lên lịch để mọi người cùng bàn thảo và có những điều chỉnh ăn nhập nhằm dung hòa mục tiêu của nhân viên với mục đích của công ty.

3. Trình bày kỳ vọng của mình. Cho nhân viên biết phản hồi của bạn về khả năng và thành tựu làm việc của họ. Nên thực hiện điều này đều đặn trong suốt năm. Xác định rõ viên chức nào cần tăng cường tập huấn và giám sát, nhân viên nào không. Có một số người không thể thành công, dẫu bạn đã tương trợ hết mình. Trong trường hợp này, không còn cách nào khác, hãy cân nhắc việc sa thải.

4. Quản lý bằng cách quan sát. Hãy dành thời gian đi vòng vòng và quan sát những gì đang diễn ra trong doanh nghiệp. Đừng chỉ có đóng đinh ở chiếc bàn vô tri giác hoặc đi lướt qua viên chức trên hành lang công ty. Nếu có thể, hãy dừng lại một hai phút, chuyện trò cùng họ. Nhân viên là nguyên tố chìa khóa mang lại thành công cho tổ chức. Tìm hiểu họ cần gì? Thích gì? Ghét gì? Việc gì tạo cho họ một môi trường làm việc đầy thử thách và giàu ý nghĩa?

5. Lắng nghe ý kiến nhân viên. Quan tâm đến viên chức trong tổ chức. Mời họ vào phòng mình hoặc phòng hội thảo. Khuyến khích viên chức thoải mái trò chuyện để hai bên có thể thấu hiểu lẫn nhau. Trò chuyện và thấu hiểu không nhất mực phải là chia sẻ thông tin cá nhân một cách chi tiết. Thay vào đó, bạn nên bàn thảo suy nghĩ về công việc, sở thích, gia đình… Lý tưởng nhất là bàn bạc nhóm nhỏ. Thời điểm ăn nhập là trong bữa sáng hoặc trưa.

6. Cho nhân viên biết mình quan tâm đến họ. Không một nhân viên nào muốn cống hiến cho ông chủ chỉ biết có lợi nhuận và công việc. Khi viên chức biết chủ công ty quan tâm đến mình, họ sẽ nỗ lực làm việc một cách tận tình và hiệu quả. Vậy nên, hãy thanh minh cho họ thấy: vì sao bạn quan tâm đến họ và tại sao họ quan trọng đối với bạn?
Thêm vào đó, hãy cùng viên chức chuyện trò về con đường sự nghiệp của họ; tụ họp vào việc bạn muốn viện trợ để họ phát triển, thăng tiến. Việc tập huấn viên chức gắn liền với sự tồn vong của đơn vị. Huấn luyện nâng cao kỹ năng cho viên chức để họ tự tín và hăng say lao động, phụ trách nhiều trọng trách trong công ty. Cho viên chức biết là bạn luôn sẵn sàng tương trợ, giúp đỡ họ một cách đúng lúc để giải quyết mọi khó khăn. Phương pháp này mang lại thành công cho tổ chức.

7. “Tập huấn chéo” nhằm thúc đẩy năng lực viên chức. Tạo thời cơ để các viên chức hiệp tác và trợ giúp lẫn nhau. Hãy chỉ dẫn nhân viên kĩ năng mới để họ tương trợ lẫn nhau, cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ mà doanh nghiệp uỷ thác. Trong khi thực hiện những kĩ năng mới và nhận nghĩa vụ tốt hơn, giá trị của họ đối với đơn vị sẽ tăng.

8. Cởi mở đón nhận những ý tưởng mới. Những ý tưởng sáng tạo và xuất nhan sắc không chỉ từ dàn lãnh đạo mà có thể xuất hành từ bất kì một nhân viên nào trong tổ chức. Đó là lý do quan yếu để bạn nuôi dưỡng một môi trường tốt, có khả năng khuyến khích tất cả nhân viên chia sẻ ý tưởng cải thiện công ty. Các ý tưởng đa dạng về chính sách, thủ tục, phân bổ vị trí, thiết kế sản phẩm hay dịch vụ khách hàng… Kết quả là bạn nhận được năng suất làm việc cao hơn và nguồn ý tưởng bất tận.

9. Thư giãn. Hãy doanh nghiệp các môn thể thao như thường cờ, bóng bàn, bài Rumi… Văn phòng là nơi nghiêm trang, gắn liền với những thứ nặng vật nài như: tiền tài, công danh, thị phần. Ngoài ra, đôi khi, văn phòng có thể dùng làm nơi thư giãn. Nhiều người khuyến khích việc thư giãn nơi công sở và tin rằng nó sẽ đem lại hiệu quả tốt cho công ty. Xếp lịch nghỉ định kỳ khoảng một tiếng cho tập thể viên chức công ty. Có câu nói rằng: Khi bạn tin vào giá trị của cần lao cật sức, bạn cũng sẽ nhận ra tầm quan trọng của việc nghỉ ngơi thư giãn một tẹo.

10. Doanh nghiệp lễ hội mang phong cách riêng của doanh nghiệp. Ý tưởng này ăn nhập với kế hoạch về một môi trường làm việc mang tính nhân bản và tương tác lẫn nhau. Khi công ty đơn vị sinh nhật cho công nhân viên, hay buổi lễ chúc mừng những thành tích quan trọng, viên chức sẽ cảm thấy được quý trọng và được kiểm tra cao. Kết quả là tạo ra môi trường làm việc hăng hái, nâng cao kiên tâm cống hiến hết mình của viên chức để tạo thành công cho đơn vị.

(Theo doanh gia Sài Gòn)

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2015

Vì sao nhân viên ngân hàng đua nhau bỏ việc để lập startup?

Hơn 1 nửa (khoảng 51%) nhân viên ngân hàng tại châu Âu đang nghĩ đến việc đổi nghề theo một nghiên cứu mới công bố vào năm nay của công ty Option.



Trong tháng 2/2012, đối diện với tàn tích của khủng hoảng tín dụng các nhà băng đã phải cắt giảm 230.000 việc làm. Stu Taylor - Giám đốc giao dịch toàn cầu tại UBS Group AG có trụ sở ở London đã ngay lập tức nhận ra rằng sẽ tốt hơn nếu nghỉ việc.

Cuối cùng, ông đã bỏ vị trí với mức lương 7 con số, chấp nhận rủi ro và thành lập một công ty khởi nghiệp công nghệ.

Taylor cùng 3 cộng sự rơi vào cảnh "không lương" và thành lập nên Algomi - một nền tảng quản lý việc bán trái phiếu dành cho các thương nhân, giám đốc quản lý quỹ và các nhà đầu tư.

3 năm sau đó, Stu nói rằng sự đánh đổi dù khó khăn giữa việc từ bỏ công việc lương cao để nhận lại một phần nhỏ so với số đó thật sự rất đáng giá. "Tôi thích những gì mình đang làm, rất khác biệt và quan trọng nó là của tôi".

Nhiều ngân hàng trong đó có cả UBS, Royal Bank of Scotland Group và Deutsche Bank đều phải cắt giảm việc làm và đóng cửa một số mảng kinh doanh, đặc biệt là giao dịch trái phiếu. Điều này khiến các cựu nhân viên ngân hàng lần lượt bỏ lĩnh vực tài chính và sử dụng kinh nghiệm của họ để dấn thân vào các lĩnh vực như công nghệ tài chính.

Tận dụng sự thay đổi về môi trường pháp lý, họ thành lập nên những công ty cung cấp nền tảng quản lý rủi ro, phân tích dữ liệu, giao dịch - những công việc trước đây đều do con người thực hiện.

"7 trong số 10 cuộc hội thoại với các nhân viên ngân hàng đầu tư của tôi gần đây đều kết thúc bằng lời đề nghị lưu tâm giới thiệu cho họ một công việc trong lĩnh vực công nghệ", Eric Anderson - chủ tịch công ty thực hành công nghệ tài chính Egon Zehnder International có trụ sở tại Atlanta nói. "Đây là một điều chưa từng xảy ra cách đây 5 năm".

Ít người môi giới

Theo Cục thống kê Lao động Mỹ, Bắc Mỹ hiện có ít hơn 211.500 nhân viên môi giới trái phiếu, trong khi đó, con số tương tự trong lĩnh vực công nghệ phần mềm hay an ninh mạng lên tới 500.000. Thậm chí, rất nhiều vị trí trong số này không tồn tại khoảng 1 thập kỷ trước đó. Nhận định mới đây của McKinsey & Co vào tháng 12 cũng nói rằng, Mỹ hiện có hơn 12.000 công ty khởi nghiệp tập trung phục vụ các doanh nghiệp ngân hàng.

Tổng cộng theo dữ liệu của Bloomberg, 4 ngân hàng lớn nhất của Mỹ và Anh đã cắt giảm tới 350.000 việc làm kể từ 2008. Báo cáo hàng quý của Bloomberg Global Poll phát hành vào tháng 1 vừa qua cho thấy 83% người khảo sát đều nhận định ngành ngân hàng sẽ tiếp tục cắt giảm nhiều việc làm hơn nữa trong năm nay.

Theo suy nghĩ của Anderson thì: "Các ngân hàng đầu tư hiện đang di chuyển chậm chạp đến mức chúng ta có thể đạp đổ nó bất cứ lúc nào".

Chuyển đổi thị trường

Mark Whitcroft - một công dân Anh 34 tuổi đã bỏ vị trí giám đốc mảng kinh doanh trái phiếu của ngân hàng Deutsche New York để trở thành lãnh đạo của Illuminate Finance Management - một công ty đầu tư mạo hiểm chuyên cung cấp vốn cho những dự án khởi nghiệp trong lĩnh vực tài chính công nghệ. Mục tiêu lớn nhất được đề trên website của công ty này là: "Chuyển đổi thị trường tài chính".

"Với tôi, đây là cơ hội để thay đổi sự nghiệp. Sẽ tốt hơn nếu có cơ hội tạo ra sức ảnh hưởng tới một thứ hoàn toàn mới thay vì tiếp tục cống hiến cho những gì đang tồn tại ".

Ngân hàng Deutsche đã cắt giảm lương và thu hẹp mảng kinh doanh tín dụng để tập trung cho chiến lược thắt lưng buộc bụng. 10 tháng sau khi Taylor rời UBS, ngân hàng Thụy Sỹ này đã tuyên bố kế hoạch cắt giảm 10.000 việc làm và thu hẹp một số mảng kinh doanh thương mại vốn phải chịu rất nhiều quy định khắt khe.

Cân nhắc đổi nghề

Hơn 1 nửa (khoảng 51%) nhân viên tại các ngân hàng châu Âu đang nghĩ đến việc đổi nghề theo một nghiên cứu mới công bố vào năm nay của công ty Option. Khoảng 42% nhân viên tại các quỹ đầu tư có tài sản trên 5 tỷ USD cũng đang có cùng suy nghĩ này.

86% CEO ngân hàng được khảo sát bởi PwC đều cho rằng, nhiều cải tiến về công nghệ đã sẵn sàng mang đến những ảnh hưởng mạnh mẽ tới hệ thống ngân hàng. Trong tương lai, hơn 30% doanh thu của các ngân hàng châu Âu sẽ đến từ những giao dịch kỹ thuật số. Điều này đồng nghĩa với việc con người rất có thể sẽ được thay thế bằng máy móc.

Thậm chí, Anthony Lim - một chuyên viên tư vấn an ninh đến từ công ty International Information System Security Certification tại Singapore cho biết: "Bất kể quá trình nào có thể đong đếm hay hệ thống máy móc được, nó sẽ sớm được làm tự động".

Bản thân các ngân hàng và công ty bảo mật đã chi khoảng 488 tỷ USD vào năm ngoái cho công nghệ thông tin, theo nghiên cứu của Gartner. Con số này có thể lên mức 500 tỷ USD trong năm nay, nhất là sau hàng loạt vụ rò rỉ thông tin do hacker xảy ra thời gian gần đây.

"Tiến bộ về công nghệ sẽ thay đổi mọi thứ. Đây sẽ thời gian tồi tệ nhất với những người chỉ có kỹ năng cơ bản bởi máy tính, robot và những công nghệ kỹ thuật số khác sẽ đảm đương tốt hơn". Xu hướng này đang xuất hiện trên toàn cầu.

Theo nghiên cứu mới của công ty đầu tư mạo hiểm CB Insights có trụ sở tại New York, xu hướng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ tài chính đã tăng gấp 5 lần kể từ năm 2010 lên mức 13,7 tỷ USD. Những cựu nhân viên ngân hàng như Taylor coi bỏ việc như một thương vụ đầu tư. "Dù mất mát về tài chính nhưng đổi lại tôi được làm những gì mình yêu thích. Hy vọng rằng, nó có thể tạo ra lợi nhuận trong tương lai".

Theo Trí Thức Trẻ

Tham khảo từ : http://blognhansu.Net/category/tai-lieu-nhan-su/

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

Ứng dụng trả   lương   theo HAY và 3P vào doanh nghiệp Việt Nam

Quy trình áp dụng HAY
   - Chuẩn hóa hệ thống chức danh
   - Chuẩn hóa hệ thống mô tả công việc, giao việc và phân công công việc
   - Xác định tiêu chuẩn đánh giá giá trị công việc
   - Tiến hành chấm điểm công việc
   - Xử lý kết quả và lập các dải lương Min – Max
   - tham khảo thị trường lao động và quyết định mức lương

Khó khăn của DN Việt Nam khi áp dụng HAY
   - Phân công công việc thiếu rõ ràng
   - Mô tả công việc không chi tiết và không chuẩn
   - Tiêu chuẩn công việc và bổ nhiệm chưa chuẩn
   - Thường xuyên thay đổi, kiêm nhiệm
   - Chú trọng lương năng suất, thích áp dụng lương cơ bản thấp

Hai tiếp cận áp dụng HAY tại DN Việt Nam
    Tiếp cận 1: Trả lương cơ bản cao, giúp thu hút người có năng lực, tiến hành đánh giá và giám sát mức độ hoàn thành công việc rõ ràng, khách quan, áp lực duy trì năng suất lao động cao, dẫn đến kết kinh doanh tốt. Như vậy việc áp dụng HAY rất phù hợp. Cách tiếp cận này thường thấy ở các doanh nghiệp nước ngoài. Tiền lương được coi là đầu tư chứ không phải chi phí
    Tiếp cận 2: Trả lương cơ bản cao, nếu năng suất lao động thấp thfi DN gặp rủi ro, dẫn đến Dn quyết định trả lương cơ bản thấp, điều này sẽ khó thu hút người giỏi, không thể áp dụng HAY. Cách tiếp cận này thường thấy ở DN Việt Nam. Tiềm lương thường được coi là chi phí.

Đa phần DN trả lương cơ bản thấp (P1 và P2 thấp)

Ưu điểm:
   - Doanh nghiệp nắm được đằng chuô, an toàn về tài chính. Kết quả kinh doanh tốt dẫn đến thu nhập tốt, kết quả kinh doanh không tốt , người lao động sẽ chịu thiệt
   - Trả lương cơ bản thấp sẽ tốt hơn nếu DN cam kết tỷ lệ phân chia kết quả cuối với nhân viên (hiếm doanh nghiệp nào thực hiện rõ ràng)
Hạn chế:
   - Nhân viên thành cộng tác viên
   - Nhân viên chú ý đến kết quả ngắn hạn, ít chú ý đến mục tiêu trung và dài hạn, ít chú ý đến mục tiêu phát triển bền vững
   - Quan trọng là kết quả, không quan trọng quy trình làm việc và   đào tạo   bồi dưỡng. Về lâu dài khó thu hút người giỏi và không tạo cơ chế phát triển năng lực cho nhân viên

Một số doanh nghiệp áp dụng trả lương cơ bản cao (P1 và P2)
Ưu điểm:
   - Thu hút được nguwoif có năng lực
   - Động viên làm việc theo nhóm
   - Động viên phát triển năng lực cá nhân
   - Chú trọng các mục tiêu phát triển bền vững
Hạn chế:
   - Doanh nghiệp rủi ro nếu không có cơ chế sử dụng tối đa năng lực của nhân viên
   - Thường đi liền với cơ chế đào thải khi không hoàn thành nhiệm vụ

Khó khăn khi áp dụng 3P
   - Khó khăn trong xác định dải lương Min –Max cho từng loại công việc (lương theo công việc)
   - Khó khăn trong xây dựng tiêu chuẩn năng lực và đánh gía năng lực để trả lương
Ví dụ: Thế nào là kỹ sư, kỹ sư chính, kỹ sư cao cấp……..

Kết luận: Có thể kết hợp HAY và 3P
   - Sử dụng HAY để trả lương theo P1 (Position) và P2 (person)
   - Bổ sung cơ chế tiền lương theo p3 (performance)
   - Cân đối tỷ lệ lương theo HAY/lương theo 3P (Khoảng 60/40)

Kỷ yếu Ngày   nhân sự   Việt Nam
PGS.TS Lê Quân
Chủ tịch EduViet Corp

Sưu tầm:  mẫu cv

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

Để nhân viên tự đặt mục tiêu

Việc đặt mục tiêu cho nhân viên và quản lý hiệu quả công việc thường được xem là trách nhiệm ít hứng thú nhất của người quản lý.



Quá trình chuyển các mục tiêu từ công ty xuống một bộ phận có số lượng vị trí công việc nhiều và đa dạng là một việc làm phức tạp và mất nhiều thời gian, tuy ngày càng có nhiều phương pháp giúp triển khai khoa học và hiệu nghiệm.

Việc phối hợp các mục tiêu cá nhân để ăn nhịp với các hoạt động của doanh nghiệp, luôn đòi hỏi người quản lý phải huy động nhiều kỹ năng khác nhau như truyền thông, hoạch định, hỗ trợ để thực hiện và kèm theo là một hình thức khen thưởng phù hợp.

Một trong những điểm khó nhất vẫn là kết nối những mục tiêu cá nhân này với hướng đi chung của tổ chức. Robert Liddell, chuyên gia về hoạch định nghề nghiệp ở Florida, Mỹ, đề xuất hướng chuyển lại việc thiết kế các mục tiêu cá nhân này cho chính nhân viên thực hiện. Xem đó là một cơ hội để nhân viên chủ động gắn kết trách nhiệm cá nhân với những đóng góp và phát triển của chính họ.

Lâu nay việc giao chỉ tiêu hằng năm cho từng cá nhân vẫn được nhiều nơi áp dụng, do vậy đề xuất này có vẻ không có gì mới. Điều mới ở đây là thay vì được giao chỉ tiêu, nay chính nhân viên chủ động thiết kế những mục tiêu, thể hiện đóng góp của mình cho tổ chức. Bên cạnh hiệu quả công việc cao hơn thì mức hài lòng của nhân viên với công việc cũng đi lên, làm giảm việc rời bỏ do chán việc.

Robert Liddell nhấn mạnh ba điểm cần lưu ý:

Chuẩn bị: Nhân viên phải được biết về các mục tiêu có liên quan của các cấp trên mình và những biện pháp để hiện thực hóa các mục tiêu đó. Người quản lý cũng phải hiểu rõ những mục tiêu của cấp trên mình và của tổ chức nhằm đủ sức giải thích cho nhân viên “thông” về những mục tiêu của các cấp trên khi họ không có điều kiện hiểu biết chi tiết. Đặc biệt là những mục tiêu từ trên được “điều” xuống mức cá nhân để thực hiện.

Dấu hiệu nhân viên hiểu được các mục tiêu của cấp trên là khi chính họ nhận diện được trách nhiệm của mình trong việc hiện thực hóa các mục tiêu ấy và chủ động đề ra mục tiêu đó. Khi nhân viên thấy được sự kết nối giữa kết quả công việc của mình với việc hiện thực hóa mục tiêu của cấp trên và toàn tổ chức, họ sẽ nhận ra vai trò của mình một cách rất cụ thể. Ngoài ra, sử dụng như thế nào nguồn lực cần cho công việc cũng được tính đến. Cuối cùng, người quản lý cần giúp nhân viên nói lên được các số đo thể hiện mức độ thành công của họ khi thực hiện các mục tiêu cá nhân.

Duyệt xét: Khi nhân viên tự thiết kế các mục tiêu cá nhân thì người quản lý thay vì giao chỉ tiêu sẽ tập trung vào duyệt xét các mục tiêu, các số đo sự thành công và quan trọng nhất là bảo đảm sự kết nối với các mục tiêu của cấp trên và tổ chức.

Điều “được” ở đây là ngoài các mục tiêu mà nhân viên tự nêu ra, người quản lý còn thấy nhân viên tự nhận phần phạm vi trách nhiệm cho chính họ. Khi duyệt xét, cần cân đối mục tiêu và chỉ tiêu giữa các nhân viên sẽ thể hiện sự công bằng nội bộ.

Kết nối: Khi thảo luận với nhân viên để gút lại các mục tiêu trước khi thực hiện, luôn có việc xét đến tính kết nối. Ngoài kết nối với các mục tiêu của cấp trên và tổ chức, còn có sự kết nối mang tính tạo động lực với hình thức khen thưởng và công nhận đóng góp của nhân viên cũng như kế hoạch phát triển họ. Kết nối càng rõ, động lực càng cao.

Xem ra, hướng mà Robert Liddell nêu ra là khả thi. Giống như ông đã tóm tắt câu chuyện này là: “Việc giao cho nhân viên công cụ lập mục tiêu cho chính họ sẽ hữu ích cho nhân viên lẫn cho tổ chức”.

Theo Doanh nhân Sài Gòn

Clip viên chức Nhật Bản làm việc 80 giờ/tuần gây xôn xao mạng

Đoạn clip miêu tả một nhân viên tài chính phải làm việc 13 giờ/ngày, 6 ngày/tuần trong suốt ba tháng liên tiếp.

Một người dùng Youtube có nickname “Stu in Tokyo” đã chia sẻ một video clip về những viên chức phải làm việc với cường độ cao khó tin. Trong video, Stu ghi lại một thời gian biểu của một viên chức ngành tài chính. Họ rất bận rộn trong “mùa làm ăn” của mình, cụ thể là từ tháng Một đến tháng Ba hàng năm.

Mỗi ngày, sau giấc ngủ chỉ vài giờ đồng hồ, Stu lại bắt tay vào công việc. Anh phải làm việc trung bình 13 giờ/ngày và chỉ rời văn phòng vào lúc 23h. Đó là lúc Stu phải “điên cuồng” chạy ra kịp chuyến tàu cuối cùng trong ngày để về nhà.
Con số chính thức trong khoảng thời gian làm việc của Stu: 78 giờ làm việc và 35 giờ ngủ cho 6 ngày.

Theo Stu, đó là cuộc sống của một viên chức văn phòng, hay còn gọi là nhân viên “ăn lương” điển hình tại Nhật. Đây cũng được coi là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế Nhật. Họ đặt quyền lợi của công ty lên đầu. Họ làm việc chăm chỉ một cách khó tin.

Video của Stu được xem hơn 650.000 lần trên Youtube. Trong video thứ hai của mình, Stu lại thể hiện mình rất hài lòng với công việc hiện tại.

“Tôi không cần cảm thông. Khi tôi chấp nhận công việc, tôi biết sẽ có một mùa bận rộn như thế này.” – Stu nói thêm.

Clip viên chức Nhật Bản của Stu đang gây xôn xao trên mạng xã hội:

Stu cũng nói rằng, cuối tháng ba, mọi việc sẽ trở lại bình thường. Tuy nhiên, không phải ai cũng cũng may mắn như vậy. Nhiều nhân viên ở Tokyo phải làm việc với cường độ cao quanh năm để đảm bảo cuộc sống gia đình.

Trước tình trạng các viên chức phải vắt kiệt sức lao động như hiện nay, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đang thực hiện nhiều cải cách nhằm cải thiện tình trạng này. Cụ thể, ông Abe đã đề xuất ý tưởng không trả lương làm thêm giờ để người lao động có thể về sớm hơn.

Tuy nhiên, công đoàn lao động đã phản đối kế hoạch này. Họ cho rằng, không thể giảm số giờ làm việc cho đội ngũ viên chức. Chỉ nên tăng lương làm thêm giờ cho các đối tượng này mà thôi.

(Theo CNN/Trí thức trẻ)

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

Đừng phí tuổi 20 của bạn tại Google hay McKinsey

Việc đầu tư tuổi 20 một cách thông minh sẽ giúp bạn tận hưởng quãng đời còn lại của mình với công việc mà bạn yêu thích.



Tôi để ý rằng có rất nhiều các bạn trẻ ở độ tuổi 20 thường băn khoăn chưa biết sẽ làm gì với cuộc đời mình. Liệu bạn có nên tìm mọi cách để kiếm được thật nhiều tiền hay chỉ muốn có được một cái tên danh giá (big brand name) trong CV của mình?

Sự thật thì điều quan trọng nhất mà bạn nên làm là đi theo tiếng gọi của trái tim. Việc đầu tư tuổi 20 một cách thông minh sẽ giúp bạn tận hưởng quãng đời còn lại của mình với công việc mà bạn yêu thích.

Vì thế, câu hỏi mà bạn nên hỏi bản thân càng sớm càng tốt đó là: Làm thế nào để trong thời gian ngắn nhất có thể biết được mình yêu thích điều gì?

Không nên bắt đầu với con đường mà rất nhiều người thường chọn lựa: Làm việc cho những công ty danh giá như Google hay McKinsey. Để tôi giải thích cho bạn tại sao lại như vậy. Google hiện là một trong những công ty công nghệ lớn nhất thế giới, còn McKinsey là công ty số 1 về tư vấn chiến lược trong suốt nhiều năm qua.

Làm việc ở đó ngoài một mức lương cao cộng với nhiều ưu đãi đi kèm, thì bạn còn thường xuyên được có cơ hội được gặp hay làm việc với các nhân vật nổi tiếng trong giới kinh doanh và công nghệ trên toàn cầu. Cho dù sau đó bạn có phải nghỉ việc do một số lý do và đi tìm một công việc mới, chỉ cần 1 trong 2 cái tên trên trong CV đã là quá thuyết phục đối với các nhà tuyển dụng.

Vì thế, rất nhiều bạn trẻ tin rằng được làm việc cho Google hay McKinsey là đủ để đảm bảo cho sự nghiệp của họ trong suốt quãng đời còn lại.

Nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng. Đừng để bản thân bạn bị choáng ngợp bởi cái tên đó bởi vấn đề nằm ở chỗ, rất có thể những gì bạn học được từ môi trường ấy lại rất thấp. Lấy Google làm ví dụ: Bạn là một kỹ sư và được tham gia vào những dự án lớn tại đây.

Bạn sẽ làm những gì cấp trên chỉ bảo và vạch sẵn cho bạn. Và chắc chắn là đóng góp của bạn chỉ là một phần vô cùng nhỏ bởi “Vắng mợ thì chợ vẫn đông”. Không có bạn, cả tá tài năng ngoài kia sẵn sàng “nhảy vào” thế chỗ của bạn. Để rõ ràng hơn, hãy tự hỏi bản thân rằng liệu Google có thay đổi khi bạn gia nhập hay không? Câu trả lời chắc chắn là KHÔNG.

Và vì thế, cho dù bạn có thu nhập cao hơn người khác sau khi ra trường nhưng về lâu dài, rất có thể chính bạn lại là người đi sau những người bạn khác khi họ khởi đầu với những công ty nhỏ hơn.…



Còn với McKinsey, đành rằng bạn có cơ hội được đi tới các quốc gia khác nhau, gặp gỡ những nhân vật “tai to mặt lớn” nhưng không có nghĩa rằng bạn sẽ trở nên hoàn hảo.

Tất nhiên không thể phủ nhận rằng kỹ năng suy luận phản biện của bạn sẽ được cải thiện nhưng cũng nên nhớ rằng đa phần các nhân viên tư vấn chỉ có nhiệm vụ chuẩn bị những chiến lược cùng những lời tư vấn tới khách hàng. Mà thực tế thì việc lập kế hoạch chỉ chiếm 5% thành công, 95% còn lại là khả năng thực hiện các kế hoạch đó vì nói thì bao giờ cũng dễ hơn làm.

Sau khi tốt nghiệp ĐH, tôi từng làm việc 2 năm cho một ngân hàng đầu tư, 3 năm tiếp theo cho một công ty công nghệ lớn (Cisco). Sau đó tôi cùng một vài người bạn cùng lập ra FirstMark Communication để cung cấp Internet băng thông rộng cho toàn châu Âu những năm 90.

Tôi chợt nhận ra chúng tôi phải tự tay làm tất cả mọi thứ từ ban đầu và đây là những điều tôi chưa từng biết tới khi còn ở Cisco. Sau 3 năm, FirstMark thành công vượt sức tưởng tượng của chúng tôi với số vốn lên tới 1 tỷ USD cùng hơn 600 nhân viên, làm việc với chính phủ của hơn 10 quốc gia và thậm chí còn được trao đổi với Ngoại trưởng Henry Kissinger. Đó quả là một trải nghiệm thay đổi toàn bộ cuộc đời tôi.

Trước FirstMark, bên cạnh làm việc cho 2 công ty tư vấn lớn, tôi thậm chí còn được nhận vào một vài chương trình MBA danh tiếng. Nhưng trên tất cả, tôi thật sự chẳng biết mình muốn làm gì với cuộc đời mình. Tôi thậm chí có thể còn lạc lối hơn nếu theo học tại trường kinh doanh. May mắn thay, trải nghiệm với FirstMark đã thay đổi tuổi 20 của tôi.

Tôi hiểu nhiều hơn về công việc và bản thân mình trong một tháng đầu tiên tại FirstMark hơn là 3 năm tại Cisco. Mặc dù đó là công việc vô cùng căng thẳng, không ổn định và đầy rẫy rủi ro nhưng tôi thực sự yêu thích nó. Bây giờ tôi đã cảm thấy rõ ràng hơn với cuộc đời mình: trở thành một doanh nhân.

Làm việc cật lực cho một startup hay tự mình khởi nghiệp ở độ tuổi 20 là cách học hỏi nhanh nhất cho bất kỳ ai. Đó là một khoản đầu tư tốt nhất mà bạn có thể để tìm ra giá trị thật của bản thân. Bạn có thể lo lắng về khả năng thất bại của startup đó.

Hiển nhiên đó là rủi ro khó tránh khỏi nhưng cũng nên nhớ rằng bạn chẳng có gì để mất ở độ tuổi này: Không hôn nhân, không con cái và bạn hoàn toàn vẫn sống khoẻ nếu phải chuyển vào căn hộ tồi tàn của đứa bạn thân trong vài tháng tạm thời trước khi bắt đầu với một dự án mới.

Và có một sự thật rằng – những người đáng để thuê nhất trong giới công nghệ luôn là những người ở tuổi 20 với kỹ năng hoàn hảo, tràn đầy nhiệt huyết cùng óc sáng tạo tuyệt vời.

Vì thế, cho dù dự án của bạn có không thành công như bạn mong muốn, đừng lo lắng, bởi ít nhất bạn đã có một mục tiêu rõ ràng cho cuộc đời mình cũng như cả “tá” cơ hội ở phía trước.

-----

Tác giả: Raj De Datta là một doanh nhân gốc Ấn Độ, là người sáng lập ra BloomReach và FirstMark Communications. Trước đó, Raj từng làm việc cho Lazard và Cisco và là cổ đông của gần 10 công ty khác nhau, trong đó có cả Yahoo và Ebay. Raj De Datta từng tốt nghiệp tại ĐH Princeton và có bằng MBA từ trường Kinh doanh Harvard.

Theo Infonet

Bàn về chất lượng lãnh đạo Doanh nghiệp Việt theo cách tiếp cận trách nhiệm xã hội

“ Với các công ty Việt Nam, tập trung chủ yếu là quản trị, và trách nhiệm của công dân. Hầu hết các công ty có trách nhiệm báo cáo hoạt động xã hội của họ nhưng thiếu một chiến lược.”Trách nhiệm xã hội( Corporate Social Responsibility- CSR) của Doanh nghiệp( DN) đã được nghiên cứu từ khoảng giữa thế kỷ XX và kể từ đó đến nay trách nhiệm xã hội( TNXH) đã trở thành một trong những chủ đề gây nhiều tranh cãi với những bàn luận sôi nổi của các học giả, các nhà nghiên cứu, các chính trị gia.

Trong phạm vi bài viết này tác giả bàn đến SCR dưới góc nhìn về một Lãnh đạo DN thành công.

 1. Lãnh đạo Doanh nghiệp Việt nhận thức về CRS còn thiếu tính toàn diện

 Theo kết quả điều tra tại Lễ công bố 500 DN lớn nhất Việt Nam năm 2011 của nhóm nghiên cứu Vietnam Report về quan điểm thực hiện CSR của các DN lớn VNR500, trong các yếu tố của CSR, đầu tư dài hạn cho các hoạt động xã hội được phần lớn các DN lớn VNR500 xem là hoạt động có tầm quan trọng và định hướng nhất đến chiến lược CSR của DN(51%). Ngoài ra, việc tăng cường các hoạt động xã hội nhân đạo cũng được các DN cho là có tầm quan trọng và ảnh hưởng đến chiến lược CSR của các DN(39%). Tuy nhiên, nếu xem xét tổng thể cộng đồng DN Việt với hơn 90% có quy mô vừa và nhỏ thì sự am hiểu về CSR còn rất nhiều khoảng trống. Cách hiểu phổ biến của đa phần trong số đó là đồng nhất giữa thực hiện CSR với làm từ thiện hay thực hiện CSR là không bắt buộc khi nào có điều kiện thì làm và thậm chí có nhiều lãnh đạo Việt còn mượn tiếng CSR đối với xã hội để đánh bóng tên tuổi của mình nhằm khỏa lấp những hành động thực tế đi ngược hoàn tòan với tinh thần TNXH.

 Hiểu sai, hiểu chưa đầy đủ về CSR  chính là căn nguyên đầu tiên tác động đến chuỗi quyết định và hành động còn thiếu điểm nhấn trong bức tranh thực hiện TNXH của DN Việt Nam.

 2. Lãnh đạo Doanh nghiệp Việt lựa chọn mô hình CSR còn mang tính hình thức.

Về phía các nhà quản trị: kết quả điều tra về mức độ ưu tiên thực hiện các định hướng CSR của DN cho thầy hầu hết các DN đều lựa chọn định hướng người lao động là ưu tiên số 1; sau đó đến định hướng thị trường và định hướng môi trường tự nhiên .

Về phía người lao động : hầu hết các đánh giá việc thực hiện các nội dung trong mô hình CSR của DN ở mức trung bình và dưới trung bình.

3. Lãnh đạo Doanh nghiệp Việt tổ chức quản trị CSR còn thiếu tầm nhìn chiến lược.

CSR cũng như bất cứ lĩnh vực nào khác của DN cũng cần được quản trị có hiệu quả. Đánh giá của các nhà Lãnh đạo DN Việt về các hoạt động quản trị  CSR đối với tần suất và mức độ thực hiện.

Về hoạt động xác lập mục tiêu CSR: Hầu hết các hoạt động liên quan đến  CSR của DN chủa được lập kế hoạch mang tính dài hơi mà chỉ thực hiện khi phát sinh, khi có nhu cầu hoặc điều kiện.

Về việc lập hồ sơ,   tài liệu   và ban hành các quy định, văn bản tổ chức hướng dẫn thực hiện bộ quy tắc ứng xử và quá trình thực hiện bộ quy tắc ứng xử.

Về thiết lập cơ cấu tổ chức quản lý thực hiện CSR của DN: Hoạt động xã hội Doanh nghiệp được thực hiện theo cách “ từ trên xuống” trong đó các quyết định thường từ cấp   nhân sự   cao nhất ban hàng và được bộ phận Kinh doanh, PR và/hoặc   phòng nhân sự   thực hiện hầu như chưa có bộ phận phụ trách CSR độc lập.

Về việc cung cấp các nguồn lực thực hiện CSR: Việc cung cấp các nguồn lực thực hiện CSR được các nhà quản trị đánh giá ở mức khá cao,

Về việc tổ chức   đào tạo   nhân lực và tổ chức hệ thống thông tin thực hiện CSR  của DN: Cũng giống như hoạt động lập kế hoạch và thiết lập cơ cấu tổ chức thực hiện CSR, các hoạt động này của các DN nước ta cũng chưa được thực hiện tốt.

Về hoạt động tổ chức thực hiện các quy định của bộ quy tắc ứng xử: Đây là hoạt động được đánh giá ở mức cao nhất trong các nội dung về quản trị CSR .

Về hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện CSR và điều chỉnh: Đây là hoạt động rất ít DN thực hiện. Điều này có nghĩa là tần suất thực hiện là hiếm khi và mức độ thực hiện là kém.

Như vậy, từ một vài nét phác họa về “tâm” và “tầm” của lãnh đạo DN Việt qua góc nhìn CSR có thể thấy không ít dấu hiệu vui nhưng cũng còn không ít những lo lắng trong lộ trình hội nhập quốc tế với tinh thần TNXH. Các nhà lãnh đạo Việt cần am hiểu toàn diện hơn, tự tin hơn và nỗ lực hơn để CSR trở thành một điểm nổi bật thể hiện sự kết hợp “truyển thống và hiện đại” của nền kinh tế Việt Nam”.

Kỷ yếu ngày nhân sự Việt Nam
TS. Nguyễn Thị Minh Nhàn
Khoa   quản trị nhân lực   – Trường Đại học Thương mại